[以下日本語]
(Kennet Team) Tri ân Đại sứ Yamada Takio kết thúc nhiệm kỳ tại Việt Nam. Trên hành trình giao lưu và hợp tác giữa Nhật Bản và Việt Nam, một cái tên đã gắn bó mật thiết và đóng góp không ngừng nghỉ – Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền Nhật Bản tại Việt Nam, ông Yamada Takio. Nhân dịp kết thúc nhiệm kỳ công tác đầy ý nghĩa tại đất nước Việt Nam (2021 – 2024), Đại sứ Yamada đã chia sẻ những suy tư sâu sắc và tri ân đối với quan hệ hai nước.
Bằng một bài phát biểu đầy tình cảm và sự hiểu biết, Đại sứ Yamada đã tỏ lòng biết ơn đến sự hỗ trợ và hợp tác từ các bên liên quan, cũng như nhấn mạnh về những tiến bộ đáng kể trong mối quan hệ giữa Nhật Bản và Việt Nam trong suốt thời gian ông đảm nhận vị trí này. Với tâm hồn giàu tình yêu và sự cam kết, Đại sứ Yamada đã phân tích mối liên hệ giữa hai quốc gia từ góc độ lịch sử và văn hóa, thấu hiểu sâu sắc bản sắc Đông Bắc Á của Việt Nam và đánh giá cao sự đóng góp đặc biệt của nước này vào mối quan hệ chặt chẽ giữa hai nước.
Dù chia tay Việt Nam trên cương vị Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền, nhưng Đại sứ Yamada Takio để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng mọi người với sự nhiệt tình và sự hiểu biết về quan hệ Nhật Bản – Việt Nam. Chúng ta hãy cùng nhìn lại và trân trọng những đóng góp và những năm tháng ông đã dành cho sự phát triển của mối quan hệ này.
Kennet Team xin chia sẻ lại bài phát biểu của Đại sứ đã được công bố trên website Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam.
Yamada Takio
Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền Nhật Bản tại Việt Nam.
Lời mở đầu
Năm nay, hai nước Nhật Bản và Việt Nam chào đón kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Mối quan hệ Nhật Bản – Việt Nam được cho là đang trong giai đoạn phát triển tốt đẹp nhất từ trước đến nay trên mọi lĩnh vực, đặc biệt là chính trị và kinh tế. Trong cuộc điện đàm cấp cao giữa Thủ tướng Kishida Fumio và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vào tháng 2 vừa qua, lãnh đạo hai nước đã nhất trí về việc nâng cấp quan hệ “Đối tác Chiến lược sâu rộng” giữa hai nước lên một tầm cao mới trong năm nay.
Nhân dịp kỷ niệm 50 năm, các cơ quan ban ngành của hai nước đã tổ chức nhiều cuộc thảo luận khác nhau để tìm ra yếu tố quan trọng đằng sau bối cảnh quan hệ hai nước phát triển nhanh chóng, gắn bó mật thiết trong những năm gần đây. Trả lời cho câu hỏi này, nhiều cá nhân đã và đang đóng góp cho quan hệ Nhật Bản – Việt Nam đều có chung cảm nhận và đưa ra từ khóa đó là “Đồng cảm và cộng hưởng”.
Tất nhiên, việc quan hệ Nhật Bản và Việt Nam ngày càng gắn bó mật thiết trong những năm gần đây do có sự đồng nhất lợi ích về mặt chính trị và kinh tế là điều rõ ràng. Tuy nhiên, yếu tố mang tính chính trị và kinh tế vẫn chưa đủ để có thể giải thích thỏa đáng về việc quan hệ song phương trở nên khăng khít nhanh chóng như hiện nay. Do đó, tôi cho rằng, bối cảnh đằng sau mối quan hệ khăng khít đó còn là sự “đồng cảm và cộng hưởng” độc đáo được hình thành bởi sợi dây gắn kết mang tính lịch sử và văn hóa lâu đời giữa Nhật Bản và Việt Nam.
Trong bài viết này, tôi sẽ chia sẻ quan điểm về mối liên hệ giữa Nhật Bản và Việt Nam, bối cảnh của mối quan hệ đó trên cơ sở đề cập tới lịch sử Đông Bắc Á.
“Bản sắc Đông Bắc Á” của Việt Nam
Tôi nhận công tác tại Việt Nam cách đây hơn ba năm. Đây là thời điểm đại dịch COVID-19 đã bắt đầu xuất hiện, nhưng quy mô lây lan vẫn được kiểm soát tốt tại Việt Nam. Do đó, tôi vẫn có thể ung dung dạo quanh đường phố Hà Nội và đi du lịch trong nước. Giữ trọn những cảm xúc mới mẻ ban đầu khi mới nhậm chức tại Việt Nam, tôi đã có các đánh giá và quan sát về Việt Nam.
Trước đây, tôi từng công tác tại Indonesia gần 4 năm, và cũng có khoảng thời gian khá dài phụ trách công việc liên quan đến khu vực Đông Nam Á tại Bộ Ngoại giao Nhật Bản. Do đó, khi nhận nhiệm vụ tại Việt Nam, tôi tự tin rằng mình đã có hiểu biết nhất định về khu vực này. Trong quá trình làm việc tại Hà Nội và quan sát kỹ hơn về con người và xã hội Việt Nam, tôi nhận thấy rằng đây là đất nước có những điểm khác biệt khá lớn về mặt lịch sử và văn hóa so với các quốc gia Đông Nam Á khác. Và “Để hiểu rõ về Việt Nam, phải chăng tôi nên gạt bỏ những hiểu biết có sẵn từ trước về khu vực Đông Nam Á, thay vào đó nên xem xét Việt Nam trong bối cảnh lịch sử Đông Bắc Á?”. Ý thức về vấn đề này đã nảy sinh trong đầu tôi một cách tự nhiên như thế.
Trên thực tế, ngay cả khi lấy ngôn ngữ là cốt lõi của văn hóa Việt Nam, thì cũng có tới khoảng 70% từ vựng tiếng Việt có nguồn gốc từ chữ Hán, và cho đến khoảng giữa thế kỷ 20, chữ Hán vẫn được sử dụng trong các văn bản chính thức của Việt Nam. Ngày nay, bảng chữ cái tiếng Việt chủ yếu được sử dụng để viết trong các văn bản, nhưng nếu ta bước vào bất kỳ ngôi đình, ngôi chùa cổ kính nào ở khắp nơi tại Việt Nam, cũng đều có thể thấy những bức hoành phi và câu đối ghi chép lời chỉ bảo giáo nghĩa được viết bằng chữ Hán.
Ngoài ra, nếu xét về tình hình tôn giáo, chúng ta có thể thấy rằng, trong khi tại các quốc gia khác ở bán đảo Đông Dương, Phật giáo Thượng tọa bộ (Phật giáo Tiểu thừa) là tôn giáo chủ đạo, thì Việt Nam lại giống với khu vực Đông Bắc Á, Phật giáo Đại thừa là tôn giáo chủ đạo. Hơn nữa, Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Nho giáo. Chế độ khoa cử vẫn tiếp tục tồn tại tại Việt Nam cho đến đầu thế kỷ 20. Ngày nay, vẫn còn rất nhiều miếu Khổng Tử nằm rải rác khắp nơi tại Việt Nam, tiêu biểu trong số đó là “Văn Miếu Quốc Tử Giám” – Di sản Thế giới được UNESCO công nhận. Như vậy, có thể nói rằng thế giới tinh thần của Việt Nam mang đậm bản sắc Đông Bắc Á.
Tôi đến Việt Nam nhậm chức với tiềm thức rằng Việt Nam là một quốc gia Đông Nam Á, nên việc Việt Nam mang “Bản chất Đông Bắc Á” là điều nằm ngoài suy nghĩ của tôi. Nhưng đồng thời, đây cũng là một gợi ý rất hữu ích để tôi tìm hiểu về Việt Nam. Trong vòng 3 năm qua, trên cương vị là Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền Nhật Bản tại Việt Nam, tôi đã có cơ hội được tham dự nhiều hoạt động giao lưu giữa hai nước, đồng thời tích lũy cho mình nhiều kinh nghiệm phong phú. Tôi nhận ra rằng, “Bản sắc Đông Bắc Á” của Việt Nam đã tạo nên sự “đồng cảm và cộng hưởng” độc đáo giữa hai nước Nhật Bản – Việt Nam, đây cũng chính là yếu tố đứng sau bối cảnh quan hệ Nhật Bản – Việt Nam ngày càng trở nên gắn bó mật thiết một cách nhanh chóng trong những năm gần đây.
Tổng quan về lịch sử Việt Nam
“Bản sắc Đông Bắc Á” của Việt Nam cũng thể hiện rõ từ cái nhìn tổng quan về lịch sử Việt Nam. Thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên, Việt Nam đã phải khuất phục trước các cuộc tấn công của Hán Vũ Đế, và sau đó bị Trung Quốc cai trị trong một thời gian dài hơn một nghìn năm. Ở Việt Nam, thời kỳ bị Trung Quốc cai trị này được gọi là “Thời kỳ Bắc Thuộc”. Sang đến thế kỷ thứ 10, một vị anh hùng dân tộc là Ngô Quyền đã nổi dậy, đánh bại quân Nam Hán, lập ra nhà Ngô của Việt Nam (vùng đất Giao Chỉ của họ Ngô) và dẫn dắt Việt Nam giành độc lập. Người ta nói rằng trong suốt thời gian dài của thời kỳ Bắc thuộc, Việt Nam đã nhiều lần khởi nghĩa chống lại ách đô hộ, giữ gìn bản sắc xã hội và văn hóa độc đáo của dân tộc. Bên cạnh đó, cũng không thể phủ nhận rằng, trải qua thời kỳ Bắc thuộc, Việt Nam đã tiếp thu nhiều di sản văn hóa từ Đông Bắc Á. Ngoài ra, cũng có ghi chép về việc giao lưu trực tiếp giữa Việt Nam và Nhật Bản từ khoảng thế kỷ thứ 8. Có một giai thoại được nhiều người biết đến về nhà sư Phật Triết đến từ Lâm Ấp (Việt Nam), người đã theo học cao tăng Bồ Đề Tiên Na (Bodhisena) ở Nam Thiên Trúc (Ấn Độ) qua nhà Đường đến Nhật Bản, và dâng lên điệu múa “Lâm Ấp Nhạc” (Vũ điệu Ca Lăng Tần Già) – một loại hình nhã nhạc – trong nghi lễ Khai nhãn Đại Phật ở chùa Todaiji. Ngoài ra, còn có câu chuyện nổi tiếng khác về Khiển Đường sứ Fujiwara no Kiyokawa và lưu học sinh Abe no Nakamaro bị đắm tàu trên đường từ nhà Đường trở về Nhật Bản. Họ dạt vào vùng lân cận tỉnh Nghệ An của Việt Nam, và sau đó, Nakamaro đã nhậm chức Trấn Nam Đô Hộ (An Nam Tiết Độ Sứ) tại Giao Châu (Hà Nội). Cũng trong khoảng thời gian này, còn có một câu chuyện kể rằng Khiển Đường sứ Heguri no Hironari khi đang trên đường trở về Nhật Bản cũng đã gặp phải một cơn bão và trôi dạt đến xứ Côn Lôn (Việt Nam). Vào thế kỷ 13, Nhật Bản đã trải qua hai cuộc xâm lược của quân Mông Nguyên. Cũng trong khoảng thời gian này, Nhà Trần của Việt Nam (nước Đại Việt của họ Trần) cũng bị quân Nguyên xâm lược ba lần. Có một giả thuyết được nhiều người ở Việt Nam tin tưởng, đó là khi quân Nguyên xâm lược Việt Nam lần thứ ba, tướng quân Trần Hưng Đạo đã giáng một đòn nặng nề vào hạm đội nhà Nguyên trong trận đánh trên biển (chiến thắng Bạch Đằng) , khiến nhà Nguyên phải từ bỏ cuộc xâm lược Nhật Bản lần thứ ba.
Từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 17, việc giao thương bằng Châu Ấn thuyền (Shuinsen) đã gắn kết sâu sắc hai nước Nhật Bản và Việt Nam. Người ta nói rằng, Việt Nam là nơi các con thuyền của Nhật Bản đến giao thương nhiều nhất trong các điểm đến được ghi trên Châu Ấn trạng (Shuinjo) do Mạc phủ Tokugawa ban hành, đồng thời Tướng quân Tokugawa Ieyasu rất thích các loại gỗ thơm của Việt Nam (kỳ nam, trầm hương). Vào thời điểm đó, tại thành phố cảng Hội An ở miền Trung Việt Nam, có một khu phố Nhật Bản rộng lớn, nơi có cầu Nhật Bản (Chùa Cầu) bắc qua, và là nơi đưa đồ gốm và vải dệt, v.v… từ Việt Nam sang Nhật Bản. Câu chuyện tình yêu giữa Công nữ Ngọc Hoa (công nữ Anio) ở Hội An với thương nhân Araki Sotaro ở Nagasaki vẫn được lưu truyền cho đến ngày nay. Vào tháng 9 năm nay, vở Opera kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – Nhật Bản mang tên “Công nữ Anio” dự kiến sẽ được công diễn ở cả hai nước Nhật Bản và Việt Nam.
“Bản sắc Đông Bắc Á” của Việt Nam và mối quan hệ Nhật Bản – Việt Nam hiện nay
Như tôi đã đề cập ở phần mở đầu, lý do tôi giới thiệu về sự liên quan giữa lịch sử Đông Bắc Á và Việt Nam cũng như lịch sử giao lưu Nhật Bản – Việt Nam là do bối cảnh quan hệ hai nước nhanh chóng trở nên khăng khít trong những năm gần đây sẽ không thể được hiểu đầy đủ nếu không dựa trên “Bản sắc Đông Bắc Á” của Việt Nam – yếu tố vốn bắt nguồn từ sợi dây gắn kết lịch sử và văn hóa lâu đời giữa hai nước.
– Tại sao số lượng người Việt Nam sinh sống tại Nhật Bản lại đang tăng nhanh như vậy (Số lượng người Việt Nam sinh sống tại Nhật Bản đã tăng khoảng 9 lần trong 10 năm qua, tính đến cuối năm 2022, có khoảng 500.000 người Việt Nam đang sinh sống tại Nhật Bản.)?
– Tại sao các doanh nghiệp Nhật Bản lại ưa chuộng chọn Việt Nam làm điểm đến đầu tư (Theo khảo sát của JETRO năm ngoái, Việt Nam được xem là điểm đến đầu tư hấp dẫn nhất thế giới đối với các doanh nghiệp lớn của Nhật Bản.)?
– Tại sao Việt Nam sản sinh ra nguồn nhân lực trình độ cao trong lĩnh vực kỹ thuật bao gồm kỹ sư khoa học công nghệ nhiều hơn so với các quốc gia khác trong khu vực?
– Tại sao Việt Nam có thể đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng (chỉ tính người Việt Nam) mà không có sự liên quan đáng kể nào của người Hoa Kiều? (Năm ngoái, Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế hơn 8%, và dự kiến sẽ tăng trưởng khoảng 6% trong năm nay.)?
– Tại sao người Việt Nam lại học tập và tiếp thu tiếng Nhật nhanh hơn người ở các quốc khác (Có lẽ điều này là do tiếng Việt là ngôn ngữ dựa trên chữ Hán.)?
Câu trả lời cho những câu hỏi này có thể được tìm thấy phần nào trong tình hình kinh tế của Việt Nam. Tuy nhiên, ngay cả khi lấy một ví dụ về sự gia tăng nhanh chóng số lượng người Việt Nam sinh sống tại Nhật Bản trong những năm gần đây, tôi thấy khó có thể giải thích thỏa đáng nếu chỉ dựa trên lý do kinh tế này vì ngoài Việt Nam, vẫn còn nhiều quốc gia khác có sự chênh lệch tiền lương so với Nhật Bản tương tự như Việt Nam. Suy cho cùng, về mặt lịch sử và văn hóa, Việt Nam là quốc gia đậm nét “Bản sắc Đông Bắc Á”, và các yếu tố liên quan đến điều này đã tạo nên sự “đồng cảm và cộng hưởng” độc đáo giữa Nhật Bản và Việt Nam. Nếu không xem xét đến những yếu tố lịch sử và văn hóa đó, tôi nghĩ chẳng phải sẽ rất khó để tìm ra câu trả lời cho những câu hỏi trên hay sao.
Việt Nam hướng đến mục tiêu phát triển “Tiêu chuẩn Đông Bắc Á”
Hiện nay, GDP bình quân đầu người của Việt Nam vào khoảng 4.000 USD. Chính phủ Việt Nam đang đặt ra mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam sẽ gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao, và đến năm 2045, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập, Việt Nam sẽ trở thành quốc gia phát triển.
Việc Chính phủ Việt Nam đặt ra mục tiêu đầy tham vọng như vậy là dấu hiệu cho thấy quyết tâm mạnh mẽ của Việt Nam nhằm nhanh chóng vượt qua “bẫy thu nhập trung bình” mà nhiều quốc gia Đông Nam Á đang mắc phải. Và hơn nữa, Việt Nam đang bắt đầu đào tạo ra nhiều nguồn nhân lực trong lĩnh vực kỹ thuật gánh vác công cuộc chuyển đổi số (DX) của đất nước trong tương lai. Phải chăng Việt Nam đang có tầm nhìn hướng đến đạt được mục tiêu phát triển “Tiêu chuẩn Đông Bắc Á” dựa trên nền tảng công nghệ tiên tiến bao gồm IT, tương tự như những gì mà Hàn Quốc và Đài Loan đã đạt được.
Việt Nam là đối tác chiến lược quan trọng trong khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và là một quốc gia thân thiện với Nhật Bản. Nỗ lực phát triển kinh tế với các mục tiêu đầy tham vọng của Việt Nam chắc chắn là những động thái đáng mừng đối với Nhật Bản. Tôi cho rằng Nhật Bản cần hỗ trợ tối đa cho những nỗ lực này của Việt Nam.
T5/2024.
Nguồn: ĐSQ Nhật Bản tại VN.
『北東アジア』史の中のベトナム(日越間の「共鳴と共感」)
(ケンネットチーム) 大使山田多喜夫がベトナムでの任期を終えることに感謝します。日本とベトナムの交流と協力の旅路の中で、一つの名前が深く結びつき、絶え間ない貢献をしてきました – それがベトナム駐日本大使特命全権大使山田多喜夫氏です。2021年から2024年までのベトナムでの意義深い任期の終了を記念して、山田大使は両国関係に対する深い思いや感謝の気持ちを共有しました。
感情豊かで理解が深い演説を通じて、山田大使は関係者からの支援と協力に感謝の意を示し、彼がこの職位に就任して以来の日本とベトナムの関係の大幅な進展を強調しました。愛情と献身心に満ちた心で、山田大使は歴史と文化の観点から両国間の関係を分析し、ベトナムの東北アジアの本質を深く理解し、この国が両国間の緊密な関係に特別な貢献をしたことを高く評価しました。
ベトナムを駐在大使として送り出しますが、山田多喜夫大使は日本とベトナムの関係に対する熱意と理解をもって、人々の心に深く残る印象を残しました。私たちは彼がこの関係の発展に費やした貢献と年月を再び振り返り、その価値を認識することを共有します。
ケンネットチームは、山田大使の演説をベトナム日本大使館のウェブサイトで公開されたものを再度共有します。
『北東アジア』史の中のベトナム(日越間の「共鳴と共感」)
山田 滝雄 駐ベトナム社会主義共和国日本国特命全権大使
はじめに
今年、日越両国は外交関係樹立50周年を迎えています。現在の日越関係は、政治、経済をはじめあらゆる面で過去最高の状況にあると云われており、2月に行われた岸田文雄総理とグエン・フー・チョン書記長との電話首脳会談では、今年中に両国間の「広範な戦略的パートナーシップ」を更に格上げすることが合意されました。
50周年を迎えるに当たって、近年の日越関係の急速な緊密化の背景に何があるのかについて様々な議論を行いました。その中で出てきたのが、日越関係にかかわっている相当数の人が感じている「共感と共鳴」というキーワードでした。
勿論、日越の関係の緊密化が、近年の政治的・経済的な利益の一致によりもたらされていることは云うまでもありません。しかし、これほどまで急速な両国関係の緊密化は、政治・経済面だけでは説明しきれない部分があり、その背景には日越両国の長い歴史的、文化的な繋がりによって生み出されているユニークな「共感と共鳴」があるのではないかと考えた次第です。
本稿では、北東アジア史にも触れつつ、日越の繋がりについての私共の見方やその背景を御紹介させて頂きたいと思います。
ベトナムの『北東アジア性』
3年余り前、私はベトナムに赴任しました。当時、既にコロナ禍は始まっていましたが、ベトナムではこの頃はまだ感染拡大が抑制されており、ハノイの街中を散策することも、国内を旅行することも比較的自由でした。そこで、赴任当初の新鮮な感覚を大切にしながらベトナムについて観察を試みました。
以前、インドネシアに4年近く勤務したことがあり、外務本省でも比較的長く東南アジア関係の業務に従事していましたので、この地域についてある程度の土地勘があるつもりで赴任したのですが、ハノイに在勤し、ベトナムの人や社会についての観察を深める中で、この国が歴史的、文化的に見て他の東南アジア諸国とはかなり異質であることを感じました。そして、『ベトナムをよく理解するためには、東南アジア地域についての先入観を捨て、むしろ北東アジア史の中で捉える方が良いのではないだろうか?』 そんな問題意識が自分の中で自然と湧いてきました。
実際、ベトナム文化の中核である言語をとっても、ベトナム語の語源は約7割が漢字で、20世紀中葉までは公文書に漢字が使用されていました。現在では、文書表記には専らベトナム式アルファベットが使われていますが、ベトナムの街のあちこちに残る古い寺院に入ると、教義を記した扁額(へんがく)や対聯(ついれん)はすべて漢字で書かれています。
又、宗教の状況を見ても、インドシナ半島の他の諸国では上座部仏教(小乗仏教)が主流であるのに対し、ベトナムでは北東アジアと同じ大乗仏教が主流です(図1)。更に儒教の影響も強く、20世紀初めまで科挙の制度が存続していましたし、今日でもユネスコ世界遺産の「文廟」をはじめ数多くの孔子廟が各所に点在しています。このように、ベトナムの精神世界は頗る北東アジア的であると申し上げて良いと思います。
ベトナムは、東南アジアの一国という先入観を持って赴任したものですから、このようなベトナムの『北東アジア性』は私にとって意外なものでした。しかし同時に、ベトナムを理解しようとする上で、大変示唆に富むものでもありました。そして、この3年間、大使としての活動を通じてさまざまな交流や経験を重ねるうちに、近年のベトナムと日本の関係の急速な緊密化の背景には、ベトナムがもつ『北東アジア性』が、日越両国の間にユニークな「共鳴と共感」を生み出していることがあると考えるに至りました。
ベトナム史の概観
ベトナムの『北東アジア性』は、ベトナム史を概観しても明らかです。ベトナムは、紀元前2世紀に前漢の武帝の攻撃に屈服し、その後、1000年以上にもわたって長い中国支配を受けました。ベトナムでは、この中国支配の時期を「北属期」と呼んでいます。10世紀になって国民的英雄である呉権(ゴ・クエン)が登場し、南漢軍を撃破しベトナム呉朝(呉氏交趾国)を建国、ベトナムを独立に導きました。長きに渡る北属期において、ベトナムは何度も反乱を起こし、社会や文化の独自性を維持したと言われていますが、一方で北属期を経て、ベトナムが多くの文物を北東アジアから吸収したことも事実であろうと思われます。
また、8世紀頃からはベトナムと日本の間の直接の交流も記録されています。林邑(ベトナム)僧・仏哲が、南天竺(インド)の高僧・菩提仙那(ぼだいせんな)に師事し、唐を経て来日、東大寺の大仏開眼式で雅楽の一種である「林邑楽」(迦陵頻伽(かりょうびんが)の舞)を奉納したという逸話はよく知られています。また、遣唐使の藤原清河と留学生の阿倍仲麻呂が唐からの帰国途中に難破してベトナムのゲアン省付近に漂着した話や、その後、仲麻呂が交州(ハノイ)に在任して鎮南都護(安南節度使)を務めた話も有名です。同じ頃に、遣唐使・平群広成(へぐりのひろなり)も帰国途中、嵐に遭い、崑崙国(ベトナム)に漂流したという話も残されています。
更に13世紀になって日本は二回の元寇を経験しましたが、同じ頃ベトナム陳朝(陳氏大越国)も三回に亘り元の襲来を受けました。三度目の元の襲来時に、陳興道(チャン・フンダオ)将軍が海戦で元の艦隊に大打撃を与えたため(図2,1288年、バクダン江(白藤江)の戦い)、元は三度目の日本侵攻を諦めたという説がベトナムでは広く信じられています。
16世紀から17世紀にかけては、朱印船交易が日越両国を深く結びつけました。徳川幕府が発行した朱印状の渡航先はベトナムが圧倒的に多く、家康はベトナム産の香木(伽羅、沈香)を好んだと言われています。当時ベトナム中部の港町ホイアンには大きな日本街が存在し、日本橋が架けられ(図3)、ベトナムから日本には陶器や織物などがもたらされました。ホイアンのお姫様・アニオー姫と長崎の商人・荒木宗太郎の間のラブストーリーは今も語り継がれており、今年秋には、日越外交関係樹立50周年記念オペラ「アニオー姫」として日越双方で上演される予定です。
ベトナムの『北東アジア性』と今日の日越関係
さて、このように、北東アジア史とベトナムとの関わりや日越交流史についてご紹介させていただいたのは、近年の日越関係の急速な緊密化は、冒頭にも申し上げたとおり、長年の歴史的、文化的繋がりに根ざすベトナムの『北東アジア性』を踏まえなければ、十分には理解できないように考えるためです。
●なぜ日本に在住するベトナムの方々の数がこれ程急速に増えているのか(日本在住ベトナム人の数は、過去10年間で約9倍に増加し、22年末では約50万人のベトナムの方々が日本に在住しています。)?
●なぜ日本企業はベトナムを投資先として選好するのか(昨年のJETRO 調査では、ベトナムは日本の大企業にとって世界で最も人気の高い投資先国とされています。)?
●なぜベトナムからは、IT技術者を含む理数系の高度人材が地域の他の諸国以上に数多く輩出されているのか?
●なぜベトナムは、華僑の大きな関与なしに(越人だけで)急速な経済成長を実現できるのか(昨年ベトナムは8%以上の経済成長を達成、今年も6%程度の成長が見込まれています。?
●なぜベトナムの人々は、他の諸国の人々よりも日本語の上達が早いのか(ベトナム語が漢字をベースにした言語だということが背景にあると思われます。)?
これらの質問に対する答えは、部分的には経済的な諸事情に見出すことも可能です。しかし、例えば、近年の日本におけるベトナム人居住者の急速な増加という点をとっても、ベトナム以外にも、日本との間に同様の賃金格差を有する国は数多く存在しており、経済的な理由だけで説明しきることは難しい気がします。やはり、ベトナムが歴史的、文化的に『北東アジア性』の高い国であり、それに関連する諸要因が日本とベトナムの間にユニークな「共感や共鳴」を生み出している、そのような歴史的、文化的事情を加味しなければ、上記の質問に対する答えを見出すことは難しいのではないでしょうか。
『北東アジア・スタンダード』の発展を目指すベトナム
現在ベトナムの一人当たりGDPは4,000ドル程度ですが、ベトナム政府は、2030年までに上位中所得国入りを果たし、ホーチミン主席の独立宣言から100周年に当たる2045年には先進国入りを実現するという目標を掲げています。
ベトナム政府が、このような野心的な目標を掲げたのは、多くの東南アジア諸国が苦しむ「中進国の罠」をいち早く乗り越えようというベトナムの強い決意の表れです。そしてまた、将来のDX(デジタル・トランスフォーメーション)を担う理数系人材が数多く生まれ始めているベトナムとしては、韓国や台湾が成し遂げたような、ITを含む高度技術をベースとした『北東アジア・スタンダード』の発展を達成することを視野に入れているのではないでしょうか。
インド太平洋地域における重要な戦略的パートナーであり、又親日国であるベトナムが、野心的な目標を掲げて経済発展に取り組むことは、我々にとって好ましい動きであることは言うまでもありません。日本として、出来る限りの支援をすべきものと考えております。
2024年5月
ソース: 在ベトナム日本国大使館.
Tin bài liên quan

